Nữ Lang – Vị thuốc an thần cho phụ nữ

52 views

Cây Nữ lang hay còn gọi là cây Sì to là một vị thuốc nam có tác dụng an thần, điều trị mất ngủ rất hiệu quả, đã được ứng dụng rộng rãi tại châu Âu trong suốt hơn 500 năm qua.

Tên tiếng Việt: Nữ lang, Nữ lang nhện, Sì to.

Tên khoa học: Valeriana officinalis

Họ: Valerianaceae.

Bộ phận dùng: rễ

1. Mô tả cây

Sì to là tên gọi cây này của dân tộc Mèo vùng Sapa (Lào Cai). Cây thuộc thảo, sống lâu năm, cao 25-30cm. Rễ mập, khoanh tròn đỏ do vết tích của cuống lá, có nhiều rễ con.

Lá mọc từ gốc, phiến lá hình tim, hai mặt có lông mịn, cuống lá dài 20-25cm, có lông mịn.

Cụm hoa hình xim ngù, cuống dài 30-40cm. Hoa nhỏ màu trắng. Quả bết dẹt

2. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây mọc hoang dại ở những vùng núi cao lạnh ẩm, độ cao trên 1.000m của nước ta. Một số gia đình đồng bào Mèo biết đưa về trồng quanh nhà để dùng làm thuốc.

Người ta đào lấy rễ hay toàn cây, rửa sạch đất cát, phơi hay sấy cho khô.

Ở nước ta nhu cầu chưa đáng kể và chỉ mới có tính chất gia đình tại vùng dân Mèo. Nhưng để có một khái niệm về nhu cầu của cây này, chúng ta biết rằng chỉ riêng Pháp, mỗi năm tiêu thụ hết 40-50 tấn rễ tươi, đồng thời 40-50 tấn rễ khô nữa của cây Valeriana officinalis L.

3. Thành phần hóa học

Trong cây Valeriana officinalis L có từ 0.5 đến 1% tinh dầu (tính trên cây khô). Thành phần chủ yếu của tinh dầu là pinen, camphen, bocneol quay trái có trong cây dưới dạng este.

Ngoài tinh dầu, trong Valeriana officinalis còn có 5-10% chất vô cơ, rất nhiều gluxit, các axit hữu cơ, một ít lipit, sterol, nhựa, một ít tanin, protit, axit amin, men enzym.

Tuy nhiên hoạt chất của Valeriana officinalis là gì thì mặc dù đã được nghiên cứu từ năm 1830 đến nay vẫn còn được nhiều người nghiên cứu và chưa đến kết luận thống nhất.

Trước đó, người ta đã chiết được từ Valeriana officinalis các ancaloit như chatinin, valerin và actinidin, một ít heterozit nhưng chưa phải là hoạt chất.

4. Tác dụng dược lý

Trong y học cổ truyền phương tây, Valeriana officinalis được dùng làm một vị thuốc lợi tiểu, giảm đau và chữa ho, hen. Chỉ từ thế kỷ 18, một thầy thuốc Anh tên là Hill mới phát hiện tính chất an thần của vị thuốc.

Trên lâm sàng cũng như trên thực nghiệm đối với súc vật đã chứng minh là Valeriana officinalis có tác dụng chống co thắt thuốc ngủ nhẹ và dịu hệ thần kinh trung ương. Ưu điểm của vị thuốc là rất ít độc hại.

Trên người, Valeriana officinalis là một vị thuốc làm giảm hiện lương “lo âu”, “bồn chồn”, cùng loại với những thuốc reserpin và phenothiazin. Người ta cho rằng toàn vị thuốc có tác dụng hiệp đồng của các chất: tinh dầu riêng ít tác dụng, tác dụng dịu thần kinh chủ yếu là do các chất valepotriate.

Theo tài liệu nước ngoài, rễ Nữ lang có những tính chất giống như Valeriana jatamansi và Valeriana officinalis; đó là tác dụng an thần, gây ngủ, giảm lo âu, giải co thắt cơ trơn. Ngoài ra, cây còn có tác dụng điều hòa kinh nguyệt, làm ra mồ hôi

5. Công dụng và liều dùng

Cây Nữ lang được nhân dân địa phương dùng làm thuốc an thần, giảm lo âu phiền muộn, chữa mất ngủ, động kinh, đau dạ dày. Khi dùng lấy 10g dược liệu hãm với 100ml nước sôi, để nguội, uống trong ngày. Hoặc nghiền dược liệu thành bột uống, mỗi ngày 1- 4g. Có thể thái nhỏ dược liệu ngâm cồn 60 độ với tỷ lệ 1:5, ngày dùng 2- 10g pha loãng. Còn dùng dạng cao mềm, mỗi ngày uống 1 – 4g.

 Trích dẫn nguồn từ:  trang web: tracuuduoclieu.vn

Sách “ Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” tập 2, xuất bản năm 2003.

  • Bình luận Facebook
  • Bình luận mặc định

Ý kiến của bạn

Ý kiến của bạn